Từ so sánh giữa hai trận CK Wimbledon 2008 và năm nay thì thấy rằng lối chơi giao bóng, lên lưới truyền thống đã trở lại. Federer và Roddick phù hợp với lối chơi này một cách tự nhiên
| Bảng xếp hạng ATP & WTA 6-7-2009 |
| Tốp 10 tay VợT nam (ATP) |
|
|
| Tên |
Quốc gia |
Điểm |
| Roger Federer |
Thụy Sỹ |
11.220 |
| Rafael Nadal |
Tây Ban Nha |
10.735 |
| Andy Murray |
Scotland |
9.450 |
| Novak Djokovic |
Serbia |
8.150 |
| J.M. Del Potro |
Argentina |
5.705 |
| Tốp 10 tay VợT nữ (WTA) |
|
|
| Tên |
Quốc gia |
Điểm |
| Dinara Safina |
Nga |
10.521 |
| Serena Williams |
Mỹ |
8.758 |
| Venus Williams |
Mỹ |
6.617 |
| Elena Dementieva |
Nga |
6.591 |
| Svetlana Kuznetsova |
Nga |
6.071 |
Từ trước đến nay, người ta vẫn nói Federer là một tay vợt thiên về nghệ thuật, ít cơ bắp nhưng qua trận CK marathon này, ta có thể phát hiện được Federer có thể lực rất sung mãn. Trước game cuối cùng, trong khi Roddick lê bước về phía ghế, ngồi gục đầu xuống thì Federer thư thái như thể anh thừa sức chơi được 20 game nữa. Kết quả là bước vào game cuối, Roddick đã đánh hỏng 3 trái vì có lẽ bắp tay mỏi quá.
Đúng ra thì bắp tay của Federer không hơn Roddick, thua sút Nadal song cách di chuyển hợp lý của anh giúp anh tiết kiệm sức lực. Cách giao bóng của Federer cũng giúp anh đỡ mất sức bởi giao bóng là khâu tốn sức nhất. Trong khi Roddick giao bóng ầm ầm với tốc độ lớn chỉ ăn được 27 cú ace thì với cú giao bóng khó, Federer giành được 50 cú ace. Sự thông minh trong lối chơi không chỉ giúp Federer tiết kiệm sức trong mỗi trận mà còn giúp anh tránh được các chấn thương.
Trong khi các tay vợt hàng đầu ít nhiều đều gặp chấn thương trong sự nghiệp thì Federer hầu như không gặp chấn thương. Điều đó giúp anh có mặt liên tục tại tất cả các giải Grand Slam từ năm 1999 đến nay và xuất hiện 16 trong 17 trận CK Grand Slam gần đây nhất.Tay vợt huyền thoại Pete Sampras có lý khi dự đoán rằng Federer có thể đạt đến cột mốc 20 chức VĐ Grand Slam trong sự nghiệp.
Chính Phong