Trà Vinh là một tỉnh nhỏ ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng khá “giàu có” về phương diện danh lam thắng cảnh và văn hóa ẩm thực. Bên cạnh ao Bà Om, chùa Cò, biển Ba Động… được nhiều người biết đến, còn có bún nước lèo, bánh giá, bánh ống, bánh gừng, bánh canh Bến Có, trong đó có bánh tét Trà Cuôn.
Trà Cuôn thuộc xã Kim Hòa, huyện Cầu Ngang, cách thị xã Trà Vinh khoảng 10km theo hướng quốc lộ 53 đi từ cầu Long Bình. Từ nhiều năm qua, tại chợ Trà Cuôn đã hình thành một “làng” bánh tét “hoành tráng”, thu hút được nhiều khách gần xa đến mua mang về nhà làm quà. Được vậy nhờ hương vị độc đáo của bánh tét Trà Cuôn.
Bánh tét thì khắp Nam Bộ nơi nào chẳng có. Ngoài được gói cúng trong những dịp giỗ chạp, tết nhứt, bánh tét còn là hàng hóa được bày bán ở khắp các chợ. Trong số “hàng hà sa số” bánh tét đó, nổi lên một vài loại bánh tét đặc trưng. Bánh tét ở huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) được gói bằng lá mật cật và bánh tét lá cẩm của Cần Thơ có màu tím đẹp mắt, được nhiều người ưa thích. Để sánh vai cùng bánh tét hai địa phương vừa kể, bánh tét Trà Cuôn có một số đặc điểm độc đáo.
Đầu tiên, để có đòn bánh tét ngon, cần phải có nếp ngon. Đó là loại nếp đặc chủng của địa phương được “ướp” với nước cốt lá bù ngót xay nhuyễn. Hỗn hợp này, khi nấu chín cho màu xanh cẩm thạch đẹp mắt và hấp dẫn với mùi thơm thoang thoảng của nếp và lá bù ngót. Lá bù ngót còn là một dược liệu giúp giải nhiệt, thông tiểu. Riêng nếp dẻo một cách “lạ lùng”. Đặc biệt, bánh tét Trà Cuôn ngon còn nhờ có “bộ” nhưn phong phú. Bánh có 4 loại nhưn: nhưn đậu, mỡ, thịt (10.000 đồng/đòn); nhưn đậu, mỡ, thịt, lòng đỏ hột vịt muối (15.000 đồng/đòn); nhưn tôm khô, lạp xưởng (20.000 đồng/đòn) và nhưn chuối xiêm chín (10.000 đồng/đòn) dành cho những người ăn chay hoặc những ai “ngán” cái sự béo ngậy của thịt mỡ.
Lần dò tung tích, theo tư liệu thì bà cụ Thạch Thị Lý (năm nay khoảng 70 tuổi), người dân tộc Khmer, sống ở xã Hiệp Hòa (Cầu Ngang) được xem là “thủy tổ” của làng bánh tét Trà Cuôn. Những năm 1970, cụ Lý chuyển từ nghề bán bún tươi kiếm sống sang bánh tét vì loại sau này để được nhiều ngày rủi có bị… ế.
Lâu ngày, bánh cụ bán sang Kim Hòa. Thấy cụ “mần” ăn được, bà con lối xóm xã này nghiên cứu cách làm nhưn và gạo nếp, rồi làm theo, hình thành làng bánh xôm tụ như bây giờ. Ngày thường, làng bánh tét Trà Cuôn sản xuất hàng trăm đòn, còn ngày lễ, tết thì hàng ngàn đòn có hơn. Nhờ bánh tét mà cụ Lý nuôi 12 người con trưởng thành, đa số đều gắn bó với nghề “gia truyền” và ai cũng khá giả.
Bài, ảnh: Phương Kiều