(TNO) Lâu lắm không về quê vào dịp Tết. Công việc bận bịu, mải mê bụi bặm phố phường, chỉ những ngày giỗ kỵ mới tranh thủ về một buổi, hối hả thắp nhang, hối hả ăn rồi lại hối hả chạy đi. May mà mấy đứa em con cậu ở quê vẫn không trách. Ngày Thanh minh, không về tảo mộ, bọn chúng còn giẫy cỏ, quét mộ, mua đồ cúng giùm cho cả phần mình.
Tết này chưa gì bọn nó đã rủ “Năm nay nghỉ hưu rồi, có rảnh về quê ăn Tết, cùng nấu bánh tét cúng ông bà...”. Lời rủ rê sao khiến lòng rưng rưng tiếc nhớ. Ừ, cùng nấu bánh tét cúng ông bà! Mình đã từng trải qua những giờ phút ấm áp, vui sướng đó, thật lâu, thật lâu rồi có phải?
Hãy nhớ lại, nhớ lại, cái không khí náo nức của những ngày cận Tết. Từ khi đưa ông Táo về trời, cả xóm đã rộn ràng tráng bánh. Trước mỗi sân nhà đều trắng lốp những vĩ phơi bánh, trong mỗi chái bếp là nồi nước sôi ùng ục với mảnh vải the căng tròn, thẳng ran trên miệng nồi. Người đứng tráng múc từng vá bột, đổ nhẹ lên miệng nồi rồi tráng đều ra, đậy nắp lại chỉ một phút là bánh bên dưới đã chín. Cái khéo léo là khi dùng chiếc nẹp tre chuốt mỏng gỡ từng cái bánh ra xếp vào vĩ phơi. Cứ thế, từng xấp bánh tráng phơi khô mang vào chất đầy trên sề như mùa xuân đã bắt đầu có mặt trong từng nhà.
Hãy nhớ lại, nhớ lại, cái nồng ấm của ngọn lửa không chỉ tỏa ra từ những lò tráng bánh. Đó chỉ là sự bắt đầu của những ánh lửa khác. Những ánh lửa sưởi ấm cả một thời tuổi nhỏ, làm sao tôi nỡ quên! Nếu ở thành phố người ta thường mua bánh tét để cúng mùng ba cùng với cúng gà thì ở quê, bọn trẻ được hưởng cái thú ngồi canh nồi bánh tét đêm 29 Tết hoặc đêm giao thừa. Những đòn bánh tét nhân đậu mỡ, nhân chuối được mợ tôi và cô em họ tôi gói từ chập tối thật chặt và buộc từng sợi lác vòng quanh thật đều đã cho vào một cái nồi thật cao, thật to chuyên dùng trong dịp này. Và nhiệm vụ của chúng tôi bắt đầu. Thường phải mất từ sáu đến tám tiếng đồng hồ bánh mới chín tùy theo bánh gói lớn nhỏ. Trong thời gian ấy, bọn trẻ chúng tôi phải canh chừng để chụm củi cho đều. Không được để lửa cháy bùng lớn quá, bánh sẽ không mềm đều, cũng không để lửa nhỏ quá, bánh dễ bị sượng...
Cứ thế, rất nhiều cái Tết tuổi thơ tôi đã được sống đủ đầy trong cái bập bùng nồng ấm của ngọn lửa, trong cái không khí lâng lâng trang trọng của giờ phút năm cũ sắp tàn, năm mới đang đến như thế. Cái giờ phút giao thoa của đất trời, của thiên nhiên hoa cỏ lúc xuân về đã ghi khắc trong tâm hồn mỗi đứa chúng tôi như thế, mãi mãi không thể nào quên.
Còn nhớ, bên ánh lửa nồi bánh tét ấy, chúng tôi đã nói cùng nhau đủ thứ chuyện, vui nhất, hấp dẫn nhất vẫn là thi nhau kể chuyện ma, đa phần là đồ lại lời người lớn hay tự bịa ra để lòe nhau. Vậy là mấy giờ đồng hồ qua thật nhanh, chẳng buồn ngủ hay mệt mỏi gì, chỉ thấy náo nức, hồi hộp vì sắp được vào cúng giao thừa, được lì xì lấy hên năm mới...
Có khi trong đêm, có ai đó thấy buồn đốt đuốc lá dừa qua hàng xóm, uống một ngụm trà, đánh một ván cờ tướng rồi gần giao thừa lại trở về nhà mình cho kịp đón năm mới. Ánh đuốc lập lòe khiến bọn nhỏ lại căng mắt nhìn vào bóng đêm để nhận dáng người rồi rộ lên một lúc. Đêm mùa xuân ấm sực, cái ấm không chỉ tỏa ra từ ngọn lửa của nồi bánh, của những ngọn đuốc lá dừa, của chiếc đèn măng sông thắp sáng choang trong gian nhà chính mà còn ấm tự trong lòng những đứa trẻ ngồi khít rịt bên nhau, hồn nhiên trong trẻo như từng làn gió xuân vuốt nhẹ trên má... Ôi, những ánh lửa ấm nồng một thời tuổi nhỏ ấy, làm sao quên!
“Tết này nhớ về quê, cùng canh bánh tét đợi giao thừa!”. Lời nói của cô em họ đã gợi lên trùng trùng nỗi nhớ. Ánh lửa của ngày xưa vẫn bập bùng, bập bùng và dù mùa xuân vẫn còn ngập ngừng đâu đó, ngọn lửa ấy ngay bây giờ đã tỏa ấm trong tôi...
Nguyễn Ngọc Tuyết