(TNO) Một ngày của cha tôi bắt đầu từ 5 giờ sáng. Cha tôi không làm bác sĩ, cũng không làm thầy giáo hay công an gì cả. Cha tôi chỉ là một người chăn bò. Nhưng trong con mắt mấy chị em chúng tôi, cha là một người đàn ông vĩ đại.
Từ khi lớn lên, tôi đã thấy cha tôi làm nghề chăn bò. Mẹ tôi nói nhờ có đàn bò mà cuộc sống của gia đình tôi không đến nỗi nào. Trong những câu nói bi bô đầu đời của mấy chị em tôi, ngoài “pà” và “mẹ” ra thì “pò” là câu quen thuộc. Tôi còn nhớ hồi học lớp hai, hôm nào tôi cũng đòi cha cho đi chăn bò. Tôi thích nhất là khi cha bế tôi ngồi trên lưng bò. Nhưng hiếm hoi lắm cha mới đồng ý cho tôi đi cùng. Cha nói: “Đời cha mẹ đã phải chân lấm tay bùn rồi, bây giờ các con phải cố gắng học tập mà vươn lên cho bằng người ta. Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời. Các con phải thực sự cố gắng”.
Một đứa trẻ học lớp hai như tôi lúc đó không hiểu hết lời cha nói. Và tôi vẫn thích đi chăn bò.
Lớn thêm chút nữa, tôi không còn thích chăn bò vì nghĩ rằng nghề chăn bò không phải là nghề cao quý. Tôi không dám nói với bạn bè cha tôi làm nghề chăn bò. Và điều đó đã làm cha buồn.
Một năm có ba trăm sáu mươi lăm ngày, có đến ba trăm sáu mươi ngày cha tôi ra đồng. Cha chỉ ở nhà vào chiều ba mươi và sáng mùng một Tết. Nếu có đám ma hay cưới hỏi trong họ tộc, láng giềng, cha "nhường" cho mẹ đi. Cùng lắm cha phải đi thì cũng chỉ một buổi sáng hay chiều, thời gian còn lại cha về với đàn bò của mình. Cha nuôi bò giỏi nhất vùng.
Cha tôi nổi tiếng nghiêm khắc. Buổi sáng mùa đông, dù chui ra khỏi chăn, gió lạnh có phả vào mặt thì chị em tôi vẫn cứ phải ngoan ngoãn mà dậy, không được để cha gọi đến câu thứ hai. Cha hiếm khi đánh nhưng không hiểu sao chị em tôi đứa nào cũng sợ cha. Trong nhà chỉ có duy nhất chị Hải được cha tôi cho ngủ thêm vào buổi sáng vì chị có bệnh đau đầu. Sau này khi chị Hải đi học xa tận Hà Nội, mỗi lần mẹ gửi đồ lên cho chị, bao giờ cha cũng nhắc mẹ tôi bỏ thêm nắm rau lá ngải để chị tôi ăn cho bớt bệnh.
Hàng năm, cứ vào dịp Tết và khai giảng năm học mới là cha lại bảo mẹ dẫn chúng tôi đi may quần áo. Quần áo của chúng tôi đủ sắc màu rực rỡ, còn quần áo cha tôi độc một màu xám xịt. Tôi nhớ hình như cha chỉ có duy nhất một cái áo có in hình những bao thuốc lá từ ngày chúng tôi còn rất nhỏ. Chỉ cần chúng tôi ho nhẹ một tiếng là cha tôi đã cuống cuồng nói mẹ đi mua thuốc rồi hỏi chúng tôi thích ăn gì mẹ nấu cho. Hình như chưa bao giờ tôi thấy cha uống thuốc…
Rồi cha bệnh nặng, những tháng ngày cuối cùng cha phải nằm liệt giường. Cha mang bệnh trong người lâu lắm rồi mà giấu mẹ con tôi. Mãi đến khi không dậy nổi nữa thì cha mới chịu nằm. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy cha khóc là khi nội tôi qua đời, lần thứ hai là khi mẹ tôi bán đàn bò vì cha yếu quá rồi không thể đi chăn được nữa. Hai khóe mắt cha ươn ướt. Hai ngày sau, cha mất.
Tôi ghì chặt tấm ảnh cha vào lòng. Dòng nước mắt khi đó đã cạn khô. Người ta đưa áo quan xuống huyệt, mẹ tôi, các chú các cô tôi khóc gọi tên cha thảm thiết. Lúc đó tôi biết mình đã mồ côi cha thực sự. Chỗ dựa lớn nhất của gia đình tôi đã không còn nữa...
Phan Thị Doan
(Hải Phòng)