Chấp nhận nghịch cảnh như bao người khác trong cộng đồng Mỹ nhập cư Paris thập niên 1920, với một lý tưởng văn chương mạnh mẽ sau khi nếm trải những khốc liệt phi lý từ Thế chiến I, cuốn hồi ký được viết với văn phong tiểu thuyết này cho người đọc hiểu rõ Hemingway trong tâm thế của “thế hệ bỏ đi” (lost generation)...
Đây là khoảng thời gian Hemingway cùng người vợ đầu tiên, Hadley Richardson, vừa nhập cư Paris. Ông làm phóng viên thường trú cho tờ Toronto Star và bắt đầu công bố những truyện ngắn đầu tiên trên các báo Frankfurter Zeitung và Der Querschnitt ở Đức, This Quarter, The Transatlantic Review ở Paris. Một thời gian sau, áp lực công việc từ phía tòa báo cùng sự dấn thân cho sáng tác đã làm cho ông quyết định cắt đứt với nghề báo để viết văn chuyên nghiệp.
Cái nghèo của đôi vợ chồng trẻ tuổi nuôi tham vọng văn chương này được mô tả trong sách vừa cảm động vừa hài hước. Hemingway gọi đó là “cuộc chiến chống lại sự nghèo túng mà ta chẳng bao giờ thắng”. Phải chấp nhận một thực tế túng thiếu với tinh thần stoic (khắc kỷ), nhưng có lúc, ông cười nhạo chính nó “không bao giờ xem mình là người nghèo” để tìm đến với những trò phong lưu không bỏ được: trường đua ngựa náo nhiệt hay những trận quyền Anh mạnh mẽ.
Khi phải đối diện với thực tế cơm áo, ông ngây thơ và hóm hỉnh: “Khi bỏ việc làm báo, tôi tin rằng truyện của mình sẽ được in. Nhưng những gì tôi gửi đi đều quay ngược trở lại”. Ông đã nghĩ đến chuyện treo cổ hoặc trở thành nhà phê bình để dễ thở hơn. Qua những cơn tự nhạo ấy, Hemingway với tính cách kiêu hãnh và mạnh mẽ, xác tín hơn với con đường văn chương.
Có những trang viết khiến người đọc bất ngờ, đó là những ngày chàng văn sĩ trẻ bước vào Bảo tàng Luxembourg với cái bụng rỗng không để cảm nghiệm “tranh Cézanne rõ hơn và hiểu chính xác cách ông vẽ phong cảnh thế nào”, “thắc mắc liệu ông ấy cũng đói khi vẽ hay không”. Mà, ông bóc tách cảm giác không chịu đựng nổi của một gã không xu dính túi, phải chọn những con đường Paris không quán ăn để ghìm cơn đói.
Bằng văn phong cô đọng, sắc sảo vốn là đặc trưng của nguyên lý Tảng băng trôi (Iceberg theory) mà ông chủ xướng, Hemingway đưa ra những góc nhìn, chân dung thời đại đầy ấn tượng. Thông qua những cuộc tranh luận, quan điểm giữa ông với bạn bè về văn chương và không khí những cuộc gặp gỡ hào sảng, đã cung cấp nhiều trải nghiệm sống, có giá trị như những cộng hưởng của một thế hệ.
Một điều quan trọng trong cuốn sách là việc xác lập quan niệm, kỷ luật sáng tạo của Hemingway: cắt bỏ các hoa văn trang trí, chạm trổ cầu kỳ để bắt đầu từ sự đơn giản nhất. Ông tận hưởng sự kỳ diệu khi đào vào tầng sâu của nội tâm bằng thứ ngôn ngữ nhẹ bồng, cô đọng: “Cần phải tập thể dục, cần phải làm cho cơ thể nhừ tử... Nhưng ngay sau đó, khi cả người trở nên trống rỗng, ta cần đọc để không phải nghĩ hay bận tâm về điều mình đang viết... Chớ vét sạch cái giếng nguồn của sự viết mà phải biết chừa lại một ít ở đáy... để mạch nguồn làm đầy giếng lại qua đêm”.
Paris chính là mùa xuân, nguồn cảm hứng, ký ức vừa thơ mộng vừa lạnh lùng của tuổi trẻ trong cuộc đời và văn chương Hemingway: “Không bao giờ có kết thúc với Paris... Chúng ta luôn quay lại đó cho dù chúng ta có là ai, hay là thành phố có đổi thay thế nào đi nữa... Paris luôn xứng đáng với điều đó, và ta được nhận đầy đủ cho những gì ta dâng tặng...”.
Bản dịch Hội hè miên man với văn phong tinh tế và sáng sủa như một khẳng định của nhà văn Phan Triều Hải trong vai trò một dịch giả.
Nguyễn Vĩnh Nguyên
(*) Đọc Hội hè miên man, tiểu thuyết - hồi ký của Ernest Hemingway, Phan Triều Hải dịch (NXB Hội Nhà văn và Công ty truyền thông Nhã Nam, 2009)