Nguồn vốn ODA (vốn hỗ trợ phát triển chính thức), phần lớn không phải là tiền viện trợ không hoàn lại mà là tiền vay nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế với điều kiện ưu đãi như lãi suất, thời gian trả dài hạn... Trong ODA phần viện trợ không hoàn lại chiếm tỷ lệ rất nhỏ và không đáng kể.
Theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, Viện trưởng IDS thì khi nhận khoản vay ODA, nước đi vay phải chấp nhận khá nhiều điều kiện, thậm chí có những khoản vay với điều kiện rất ngặt nghèo. Chúng ta phải thỏa mãn một số điều kiện khác mà bên cho vay đưa ra, những điều kiện này thường có lợi cho phía cho vay để gây ảnh hưởng tới người đi vay. Từ việc dùng bao nhiêu phần trăm tiền để mua hàng hóa, thiết bị, vật tư, sử dụng dịch vụ, công nghệ của nước cho vay đến việc dành cho các công ty của nước đó những điều kiện đấu thầu, hoặc đầu tư ưu đãi trong các dự án ODA. Vì thế nếu sử dụng đồng vốn này không hiệu quả sẽ không mang lại nhiều tác dụng do "chi phí" đi vay đội lên.
Đã là nợ thì phải trả, người trả là thế hệ này hoặc thế hệ sau, chính vì vậy phải xem xét đến tính hiệu quả của khoản vay. Thời gian gần đây người ta bắt đầu đặt vấn đề liệu có tiêu cực trong sử dụng vốn ODA hay không và đặt vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn vốn này tránh thất thoát. Trước hết cần phải xem vốn ODA cũng là một nguồn ngân sách và vì vậy phải được sử dụng hiệu quả. Về nguyên tắc, việc sử dụng nguồn vốn này cần phải được quản lý như các nguồn ngân sách khác, thậm chí phải chặt chẽ hơn. Chính cựu Giám đốc WB tại VN, Klaus Rohland từng nói rằng: khoản nợ của VN hiện nay hầu hết là những khoản vay ưu đãi, với lãi suất thấp, thời gian đáo hạn là 40 năm. Điều này có nghĩa là mỗi năm VN chỉ phải trả một khoản nhỏ, trong lúc này khả năng trả nợ của VN là hoàn toàn có thể. Tuy nhiên vấn đề là cho dù tiền vay được sử dụng vào mục đích nào thì cũng cần phải sử dụng một cách có hiệu quả. Nếu khoản vay được đầu tư hiệu quả để tạo ra thu nhập, nâng cao chất lượng sống, nâng cao các hoạt động kinh tế thì đối với VN, nợ là một công cụ rất tốt. Ngược lại nếu không sử dụng đồng tiền vay đó hiệu quả thì nó sẽ biến thành gánh nặng cho các thế hệ mai sau.
Đất nước vay nợ với hy vọng là để phát triển, nhưng nếu tiền được giao vào tay những người có tư chất, trình độ quản lý kém thì niềm hy vọng sẽ trở thành nỗi thất vọng lớn khi những đồng tiền vay nợ bị thất thoát hoặc sử dụng lãng phí. Cũng chính vì thế, những khoản cam kết ODA khổng lồ mà các nhà tài trợ dành cho VN ban đầu là một tin vui nhưng cũng chính là áp lực đòi hỏi việc sử dụng đúng cách và hiệu quả. Người dân mong mỏi Nhà nước quản lý chặt chẽ khoản vay mà Nhà nước thay mặt họ vay cũng như trả nợ cho nước ngoài.
Một mặt kỳ vọng với những con số ODA cam kết hằng năm, mặt khác cũng cần thiết việc báo cáo rõ hiệu quả sử dụng nguồn ODA ấy như thế nào cho người dân - những người sẽ phải trả những khoản vay đó biết.
Xuân Danh