Gần 600 nhà khoa học Việt Nam và quốc tế sẽ công bố những công trình nghiên cứu của mình tại hội thảo quốc tế lần thứ 3 với chủ đề "Việt Nam - Hội nhập và phát triển" được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 5 đến 7.12.2008.
GS.TSKH Vũ Minh Giang - Phó giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội cho biết: từ những khảo cứu đơn lẻ theo từng chuyên ngành, Việt Nam học đã trở thành một môn khoa học liên ngành được giảng dạy ở nhiều trường đại học của các nước phát triển.
Pháp là nước có nền Việt học sớm nhất và học giả nước này cũng có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực này. Kế tục sự nghiệp của Viện Viễn Đông bác cổ (EFEO) trước đây, các chuyên gia của EFEO ngày nay tập trung nghiên cứu dịch thuật và công bố các tư liệu quý và các công trình biên khảo có giá trị đã từng được công bố. Theo sáng kiến của EFEO, các chuyên gia Pháp đã từng xây dựng một chương trình hợp tác đồ sộ với các nhà khoa học Việt Nam trong chương trình nghiên cứu đồng bằng Bắc Bộ. Hiện nay, Pháp vẫn được coi là quốc gia có nền Việt Nam học phát triển mạnh.
Một điểm đáng lưu ý là ở một số nước vốn ít có quan tâm đến Việt Nam như Na Uy, Hà Lan, Đức thì nay lại là những trung tâm nghiên cứu Việt Nam có uy tín. Năm 1993 theo sáng kiến của TS. Stein Tonnesson, một nhà nghiên cứu Việt Nam của Na Uy, một tổ chức liên kết toàn châu Âu về nghiên cứu Việt Nam được hình thành gọi là Euro-Viet. Từ hội thảo quốc tế đầu tiên do tổ chức này tiến hành tại Copenhagen (Đan Mạch) đến nay đã có 6 hội thảo Euro-Viet lần lượt được tổ chức thành công ở các nước châu Âu.
Theo thống kê chưa đầy đủ thì các công trình nghiên cứu về Việt Nam ở Nga tính đến cuối thập niên 90 của thế kỷ trước đã lên tới con số trên 4.000. Các công trình này thuộc hầu hết các lĩnh vực khoa học, trong đó nhiều tác phẩm có những đóng góp khoa học quan trọng, có ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao trình độ nghiên cứu Việt Nam của chính Việt Nam. Trung Quốc cũng là nước sớm quan tâm nghiên cứu Việt Nam. Trong những năm gần đây, số sinh viên Trung Quốc sang Việt Nam học tiếng Việt, nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt Nam tăng đột biến.
Trong số các nước có nền Việt học phát triển, không thể không kể đến Nhật Bản. Khác với khuynh hướng chú trọng các vấn đề có thể phục vụ trực tiếp cho yêu cầu kinh doanh, hợp tác trên lĩnh vực kinh tế, Việt Nam học ở Nhật Bản chú trọng tới nghiên cứu cơ bản nhằm hiểu đến ngọn nguồn cấu trúc xã hội, lịch sử và văn hóa Việt Nam truyền thống.
Hoa Kỳ đã từng có thời kỳ là một trong những trung tâm nghiên cứu Việt Nam lớn nhất trên thế giới. Tại đây có những trường đại học nổi tiếng về ngành Việt học như Cornell, Berkeley, Illinois, Yale... và những nhà Việt Nam học được cả thế giới biết tiếng như John Whitmore, A.Woodeside, Keith Taylor... nhưng cũng chính tại Mỹ đã từng tồn tại những khuynh hướng nghiên cứu Việt Nam rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau do tác động của chiến tranh. Từ đầu những năm 90, Việt Nam học ở Mỹ có chiều hướng phục hồi trở lại. Tại ĐH Los Angeles California (UCLA) Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á được thành lập, trong đó nghiên cứu Việt Nam là một nội dung quan trọng. Ở Texas một trung tâm nghiên cứu Việt Nam cũng được hình thành. Mục tiêu trước mắt của trung tâm này là tập hợp toàn bộ tư liệu về Việt Nam trên toàn thế giới. Tuy đội ngũ các nhà Việt Nam học trẻ của Mỹ không còn chịu tác động của chiến tranh như các thế hệ trước, nhưng sự khác biệt về khuynh hướng nghiên cứu vẫn còn rất sâu sắc.
Theo GS.TSKH Vũ Minh Giang, từ lâu nghiên cứu về Việt Nam (lịch sử Việt Nam, văn học Việt Nam...) luôn được sự quan tâm của các học giả và đã có những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, nhìn nhận Việt Nam học như một khoa học liên ngành, theo hướng khu vực học thì phải đến những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX chúng ta mới nhận thức được. Là người gắn bó Việt Nam học nhiều năm, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc - Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, khẳng định: Việt Nam học phát triển trước hết sẽ giúp người Việt Nam hiểu đúng về mình. Ông Ngọc nói: "Mong muốn của chúng tôi là Việt Nam học sẽ làm một tấm gương phản ánh chân thực nhất hình ảnh của Việt Nam mà không phải là tô vẽ. Trong thời kỳ hội nhập, điều này sẽ giúp thế giới hiểu đúng về Việt Nam để có hợp tác, chiến lược phát triển dài hạn hơn."
Vũ Thơ