Tôi thấy đây là một sự thay đổi cực kỳ cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà việc giao cho các cặp vợ chồng tự quyết định số con đã khiến cho tình trạng sinh con thứ 3 bùng phát và những thành tựu về dân số mà chúng ta đạt được trước đây bị đẩy lùi. Khi Pháp lệnh Dân số ra đời, chúng tôi, những người nghiên cứu xã hội học đã đặt câu hỏi: Tại sao không quy định rõ mỗi cặp vợ chồng chỉ có tối đa 2 con và chúng tôi cũng đã rất lo ngại rằng việc không kiểm soát mức sinh ở tầng vĩ mô sẽ khiến cho phải mất đến hàng chục năm mới có thể khôi phục lại những thành tựu của công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình mà chúng ta đạt được trước đó. Rõ ràng, đã đến lúc chúng ta không thể dừng lại ở lời khuyên, những lời đề nghị rằng nên hay không nên mà phải được luật hóa để có cơ sở pháp lý, để các tổ chức, và mỗi cá nhân có quyền và trách nhiệm thực thi.
* Quy định cũ đã làm bùng phát sinh con thứ 3. Vậy thực tế việc sinh con thứ 3 có tập trung ở tầng lớp dân cư có điều kiện kinh tế không, thưa ông?
- Thực tế hoàn toàn ngược lại, những cặp vợ chồng có trình độ dân trí cao, điều kiện kinh tế phát triển lại không hề có mong muốn và nhu cầu sinh nhiều con. Họ dành thời gian để hưởng thụ và nâng cao chất lượng cuộc sống bằng những hình thức khác nhau. Kinh nghiệm ở các quốc gia phát triển đã cho thấy rất rõ điều này, nhiều nước đã phải bằng cách này hay cách khác để khuyến khích các cặp vợ chồng sinh con.
Ngược lại, ở vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa khi cơm ăn, áo mặc hằng ngày không đủ thì họ vẫn sinh nhiều con mà không nhận thức được hậu quả của nó. Rõ ràng, mức sinh ở đất nước ta hiện nay là tương quan với trình độ dân trí chứ không phải là điều kiện kinh tế, xã hội.
Tuệ Nguyễn
(thực hiện)