Đó là lời dạy của ông cha từ rất lâu đời, có thể hiểu nôm na là nông nghiệp mà không bảo đảm thì đất nước, xã hội sẽ khó ổn định. “Nông suy bách nghệ bại” cũng là vì thế.
Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tiềm ẩn từ những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80, bùng phát vào những năm giữa và cuối thập niên 80 của thế kỷ trước một phần lớn là do sản xuất nông nghiệp không đủ tiêu dùng trong nước, hằng năm phải nhập khẩu một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng, bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sau đó không bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng khu vực những năm 1997-1998, cũng một phần quan trọng do sản xuất nông nghiệp đã đủ dùng trong nước và xuất khẩu gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều... với khối lượng lớn, đứng thứ hạng cao trên thế giới. Thành tựu mà nông nghiệp đạt được có thể coi là thần kỳ, đã góp phần xóa đói giảm nghèo, thay đổi bộ mặt nông thôn... Ngay trong tháng 6 này, nhờ lúa đông xuân được mùa, nên giá lương thực đã tăng chậm lại, làm cho vấn đề nóng nhất là lạm phát bước đầu hạ nhiệt, đồng thời đưa xuất khẩu gạo mới qua nửa năm đã vượt 1,5 tỉ USD...; trong 3 nhóm ngành thì nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản là nhóm ngành duy nhất có tốc độ tăng cao hơn cùng kỳ năm trước...
Song, trước yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập, thì thực trạng “tam nông” vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
Nông nghiệp về cơ bản vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, phân tán, phương pháp canh tác còn lạc hậu, năng suất lao động thấp. Ngoài hơn 100 nghìn trang trại, khoảng 1 nghìn doanh nghiệp nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp, trên dưới 8 nghìn hợp tác, sản xuất nông nghiệp hiện phân tán ở hàng chục triệu đơn vị kinh tế hộ tự chủ, với mức diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân một hộ chỉ vào khoảng 0,8 ha, bình quân một lao động mới được khoảng 0,4 ha, bình quân một nhân khẩu mới được khoảng 0,2 ha; ở nhiều vùng còn thấp hơn nhiều. Năng suất lao động nông nghiệp năm 2007 chỉ đạt 8,4 triệu đồng, chỉ bằng một phần ba năng suất lao động chung, do năng suất cây trồng vật nuôi còn thấp, tỷ lệ sử dụng thời gian còn ít, phương pháp canh tác lạc hậu, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp (khoảng 8%), chi phí đầu vào cao... Năng suất lúa của Việt Nam năm 2007 đạt 49,8 tạ/ha, trong khi của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã đạt 62 tạ/ha; năng suất ngô của Việt Nam đạt 38,5 tạ/ha, trong khi của Mỹ, Úc, Pháp đạt 80 tạ/ha...
Kết cấu hạ tầng nông thôn tuy đã được cải thiện đáng kể, nhưng chất lượng thấp và vẫn còn thiếu hụt, mới đáp ứng được một phần đời sống, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, kém bền vững trong phòng chống thiên tai, dịch bệnh... Tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn còn cao (theo chuẩn quốc gia là 17,7%; theo chuẩn nghèo chung của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới tính bằng chi tiêu bình quân thì năm 2006 là 20,4%); chênh lệch giàu nghèo ở nông thôn tăng và chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn còn lớn...
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân do bản thân nông nghiệp (năng suất lao động thấp, tích lũy ít...); có nguyên nhân do tỷ trọng vốn đầu tư thực hiện nông, lâm nghiệp - thủy sản còn thấp và giảm (năm 1999 là 14,1%, năm 2006 - 2007 chỉ còn 7,5%, thấp chỉ bằng một phần ba tỷ trọng của nhóm ngành này trong GDP)...
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 có nhiều nội dung, trong đó có nội dung quan trọng là vấn đề “tam nông”. Trong diễn văn khai mạc, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nhấn mạnh: “Nông nghiệp là cơ sở, nông thôn là địa bàn, nông dân là lực lượng đông đảo góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định chính trị - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng”. Từ nền tảng đó, ta có thể thấy được công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước hết và trọng điểm là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Hàng loạt vấn đề phải giải quyết, từ ruộng đất (tích tụ ruộng đất), tổ chức sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, cơ cấu sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, kết cấu hạ tầng, giải quyết việc làm, đào tạo nghề...
Ngọc Minh